GẠO NHIỄM DƯ LƯỢNG THUỐC BVTV ĐỘC HẠI

In trang

Việc kiểm soát dư lượng thuốc BVTV rất quan trọng, nhất là đối với những sản phẩm xuất khẩu sang những nước có quy định rất khắt khe về dư lượng thuốc BVTV như Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ.

Việt Nam là một trong những nước có nền nông nghiệp phát triển lâu đời với nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mang tầm vóc quốc tế như gạo, điều, cà phê, gia vị, rau củ quả... Để đạt năng suất cao trong nông nghiệp việc sử dụng thuốc BVTV là cần thiết. Tuy nhiên, hàm lượng tồn dư vượt mức của thuốc BVTV trong sản phẩm nông nghiệp sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng. Việc kiểm soát dư lượng thuốc BVTV rất quan trọng, nhất là đối với những sản phẩm xuất khẩu sang những nước có quy định rất khắt khe về dư lượng thuốc BVTV như Nhật Bản, Châu Âu và Mỹ.

 

Thời gian qua, người sản xuất nông sản đã sử dụng thuốc Bảo vệ thực vật (BVTV) không đúng liều lượng, không đảm bảo đúng thời gian cách ly là những nguyên nhân dẫn đến việc tồn dư lượng vượt ngưỡng cho phép

 

Hiện nay, áp lực sâu dịch hại là thách thức không nhỏ, khiến nhà nông phải nghĩ đến và sử dụng thuốc BVTV. Đây là giải pháp nhanh nhất và hiệu quả nhất hiện nay. Tuy nhiên, do kỹ thuật sử dụng không đúng cách nên nhiều loại sâu bệnh đã kháng thuốc. Vì thế, người nông dân tiếp tục chọn cách tăng liều lượng, giảm khoảng cách giữa các lần phun thuốc. Do đó, dư lượng thuốc BVTV trên nông sản vượt ngưỡng là điều khó tránh khỏi.

 

 

Việc dư lượng vượt ngưỡng dẫn đến tình trạng mất an toàn thực phẩm nội địa, một trong những rào cản kỹ thuật nông sản quốc tế. Các sản phẩm xuất khẩu bị trả về như gạo, thanh long, hồ tiêu trong những năm qua là điển hình. Ở mỗi quốc gia, có chuẩn riêng về việc tồn dư thuốc BVTV, do đó, nhà sản xuất, doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm rõ chuẩn của các vùng đó như thế nào, thông số ra sao để có hướng xử lý phù hợp nếu muốn đưa nông sản sang các thị trường này.

 

Hiện nay, các hướng sản xuất sang áp dụng phương pháp sinh học trong sản xuất đã và đang được quan tâm nhiều hơn. Viện Nghiên cứu đào tạo và tư vấn Khoa học công nghệ (ITC) đã triển khai mô hình mẫu trong sản xuất canh tác lúa hữu cơ và cho ra sản phẩm gạo Ngọc thực ISAF.

 

Nhờ áp dụng công nghệ trừ sâu sinh học thảo mộc, sử dụng phân vi sinh, phân hữu cơ và sử dụng hạn chế thuốc hóa học khi thật cần thiết và đảm bảo thời gian cách ly, sản phẩm gạo Ngọc thực ISAF sau khi được kiểm nghiệm chỉ phát hiện duy nhất 1 loại thuốc BVTV là Imidacloprid (trừ bọ trĩ) nhưng ở mức cực kỳ thấp (< 0.015 mg/kg), thấp hơn 25 lần so với quy định tối đa cho phép (0,4 mg/kg).

 

Như vậy sản phẩm gạo ngọc thực ISAF đã hoàn toàn đáp ứng được các tiêu chí về dư lượng thuốc BVTV trong tiêu dùng và xuất khẩu, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng khi sử dụng hằng ngày. Đây chính là kết quả cho quá trình nghiên cứu lâu dài để hướng tới một tương lai mới cho ngành sản xuất gạo của Việt Nam.